Dinh dưỡng cho thai phụ như thế nào gọi là đủ dưỡng chất?

Những thông tin, kiến thức về dinh dưỡng thai kỳ được chia sẻ tận tình, chuyên sâu bởi Điều dưỡng trưởng Nguyễn Thị Mến - Bệnh viện Việt Pháp - Hà Nội tại Hội  thảo dinh dưỡng thai kỳ, người đã có kinh nghiệm:

 40 năm làm việc trong lĩnh vực chăm sóc cho trẻ
Trong đó 20 năm làm việc với các chuyên gia Thụy Điển về phát triển cộng đồng
Giảng viên dinh dưỡng…

Phần I: Dinh dưỡng thai kỳ quan trọng như thế nào?

Phần II: Cân nặng thai phụ như thế nào là hợp lý?

Phần III: Dinh dưỡng cho thai phụ như thế  nào gọi là đủ dưỡng chất?

Nhu cầu dinh dưỡng của mẹ:

1. Đạm (protein):

Phụ nữ trước khi có thai: lượng đạm cần có 60g/ngày tương đương với 300g thịt, cá, trứng, sữa, đậu, đỗ.

Phụ nữ có thai:

 Quý 1 tăng lượng đạm lên1g/ ngày (tương đương ½ quả táo tây 200g)

Quý 2 tăng 10g/ngày (tương đương thêm 2 quả trứng gà ta 200g)

Quý 3 tăng 31g/ngày (tương đương thêm ½ bánh mỳ + 10 miếng thịt nạc vai luộc + 1 cốc sữa tươi không đường 250ml + ½ quả cam + 1 quả chuối).

Bà mẹ cho con bú:
 6 tháng đầu tăng lượng đạm lên 19g/ngày (tương đương thêm 100g thịt, cá, trứng, sữa, đậu, đỗ). Mỗi tuần tối thiểu ăn 4 lần cá. Ưu tiên các loại cá béo cung cấp omega 3 cho não em bé được phát triển.

 6 tháng sau tăng lượng đạm lên 13g/ngày (tương đương thêm 100g thịt, cá, trứng, sữa, đậu, đỗ).

Tỷ lệ đạm động vật >30 đến 50% tổng số

2. Chất béo (Lipid): Giúp tăng trưởng tế bào
Có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa, đậu đỗ và dầu thực vật: Lạc, vừng…

Phụ nữ (trước khi có thai): 45 – 55g/ngày

Phụ nữ có thai:
Quý 1 tăng 1,5 g/ngày

Quý 2 tăng 7,5g/ngày

Quý 3 tăng 15g/ngày giúp chuyển hóa các vi chất. Đây là giai đoạn rất quan trọng đối với trí thông minh của trẻ.

Những thức ăn có nhiều vitamin A

Bà mẹ cho con bú: tăng 10g/ngày
Nên dùng dầu thực vật chiếm từ 40 – 50%
Lipid động vật/tổng lipid < 60%

3. Glucid (chất đường bột): Chất đường bột tạo ra năng lượng vận động.

Phụ nữ (trước thai): từ 300 – 350g/ngày

Phụ nữ có thai:
 Quý 1 tăng: từ 7 – 10g/ngày
 Quý 2 tăng: từ 35 – 40g/ngày
 Quý 3 tăng: từ 65 – 70g/ngày

Mẹ cho con bú: tăng từ 50 – 55g/ngày

4. Nhu cầu vitamin và khoáng chất cần tăng trong thai kỳ:
 Nhu cầu sắt mỗi ngày 59mg

 Sắt có trong thịt màu đỏ, gan, rau mầu xanh đậm: rau ngót, rau muống, khoai lang

 Nhu cầu sắt 59mg/ngày nên thực phẩm ăn hàng ngày không thể cung cấp đủ từ thực phẩm nên cần bổ sung bằng viên sắt. Trừ những người có cơ địa thừa sắt thì không cần uống.

 Axit folic có ở mầu rau sẫm, các trái cây có nhiều mầu sắc, ngũ cốc nguyên hạt, lòng đỏ trứng.

 Vitamin B6 có ở khoai tây, chuối, lòng đỏ trứng…

 Iode có trong các loại hải sản

 Kẽm có nhiều ở các loại rau mầm, thịt bò,

 Canxi có nhiều ở sữa tươi, chua, phomat… thiếu canxi có thể gây loãng xương. Nếu thiếu cần uống bổ sung từ tuần thứ 20.  Để chuyển hóa được canxi cần phải có vitamin D3. Tiền vitamin D3 có ở dưới da và cách tốt nhất để hấp thu là tắm nắng.

 Vitamin B1 có nhiều ở cám gạo. Thiếu B1 có thể dẫn đến bị phù…

 Vitamin C không được giữ lại được nên nhu cầu mỗi ngày chỉ cần 2 múi cam. Mỗi bữa ăn một chút. Nếu uống cả cân cam cũng chỉ hấp thu 0,1mg bởi vì C hòa tan trong nước. Sau sinh không nên dùng các loại cam, chanh, bưởi, nho, xoài (có tính axits) mà chuyển dùng các loại dưa, ổi vẫn có đủ lượng vitamin C.

 Axit béo DHA rất quan trọng cho việc phát triển não của trẻ. Cần lấy ở trong thực phẩm như các loại dầu thực vật, mỡ cá, cá béo.

 Nước: uống nước ở trên 30 độ. Vào cuối thai kỳ cần phải uống nhiều để hạn chế táo bón. Trong thời kỳ cho con bú cần uống trên 3 lít/ ngày

Cholin giúp phát triển não và chức năng nhớ sớm trong cuộc đời có trong lòng đỏ trứng, gan bò..

 Lutein: Là chất rất quan trọng trong việc chống oxy hóa, thải độc, phát triển thần kinh và thị giác sớm. Lutein có nhiều trong cải bó xôi, quả kiwi, lòng đỏ trứng…

Chất xơ hòa tan có từ rau trái cây, không hòa tan từ ngũ cốc nguyên vỏ. Hàng ngày cần matxa vùng bụng theo chiều kim đồng hồ để bé đi vệ sinh hàng ngày. Chất xơ làm giảm colesterol trong máu, làm tăng cường vi khuẩn có lợi trong đường ruột.

Chú ý về lượng đường và muối khi đưa vào cơ thể. Ở Việt nam đang sử dụng muối nhiều hơn mức cần dùng.

Kết luận:

 Dinh dưỡng là tác nhân quan trọng có thể tác động đến hoạt động của gene rất sớm từ thai kỳ, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật của trẻ suốt cuộc đời.

 Mức tăng cân trong thai kỳ của mỗi mẹ cần tùy theo BMI trước khi có thai.

 Trung bình mỗi ngày, người mẹ cần tăng thêm 300kcal và 25g đạm.

 Khẩu phần ăn nên đa dạng từ 15 -20 loại thức ăn/ngày.

 Thực phẩm cần giàu dinh dưỡng đặc biệt là folic, sắt, iode, kẽm, B6, canxi, D3, DHA, lutein, chopin

 Tránh rượu, café, thuốc lá và thức ăn không hợp vệ sinh an toàn trong thai kỳ.

 Khi bị ợ nóng, nôn, táo bón cần điều chỉnh chế độ ăn phù hợp trước khi dùng thuốc.

Bình luận

Bình luận